Vì sao Obama dung túng cho Ả Rập Saudi - chế độ độc tài man rợ nhất thế giới?
Chùm ảnh: Sự tàn ác của cuộc tận diệt loài khỉ ở Việt Nam
Bụi đời Chợ Lớn: Cổ súy đến tận cùng cái ác
Ảnh đẹp về Sài Gòn 1955 trong sách ảnh của Cauchetier
Trào lưu 'chụp gái' và sự phỉ báng nghệ thuật nhiếp ảnh ở Việt Nam
Một số ảnh màu 'đặc biệt' về Việt Nam năm 1988
Những trò chơi không thể quên của thế hệ 8x
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên trang bìa tạp chí Time
Trong hơn một năm qua, các lãnh đạo khác nhau của Trung Quốc đã nhiều lần đề xuất việc thiết lập "quan hệ cường quốc kiểu mới" với Mỹ.
Câu hỏi này, nếu dành cho những ai chưa từng nghĩ tới cái chết thì sẽ… rất đáng sợ vì người ấy chỉ biết là mình đang sống, sức khỏe còn mạnh lành, dễ gì mà chết.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã chứng kiến sự ra đời của hàng trăm loại vũ khí hiện đại và cũng rất kỳ lạ, trong đó có những vũ khí trở nên khá nổi tiếng, và cũng có rất nhiều loại vũ khí điên rồ ...
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đứng đầu Nhà nước duy nhất trong lịch sử nhân loại vào giây phút Giao Thừa, thời khắc thiêng liêng nhất, có thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ, dự báo, tiên tri những sự kiệ...
Bạn đã bao giờ cảm thấy thích thú với hình ảnh của một cô người mẫu sải những bước chuyên nghiệp trên sàn catwalk với những món đồ được làm từ lông thú như: áo khoác, mũ, giỏ xách và rất sung sướng kh...
Sự đe doạ của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á là một đe doạ “thực sự” chứ không phải chỉ là đe doạ “cảm thấy”...
Tác giả: Grant Evans - Kelvin Rowley
Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 1986
Số hoá: nguyenquang, ptlinh
Nguồn: quansuvn.net
___________________________________________________________________

Vài lời với bạn đọc
Cuối năm 1984, hai học giả Australia, Grant Evans và Kelvin Rowley xuất bản quyển sách về cuộc chiến tranh trên biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc nước ta mà họ gọi là cuộc chiến tranh Đông Dương thứ ba. Họ bắt đầu viết quyển sách từ cuối năm 1979 và trong quá trình viết đã đến thăm Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong nhiều tháng.
Grant Evans giảng tại Khoa xã hội học trường Đại học New South Wales, Sydney và là tác giả quyển “Những kẻ gây ra mưa vàng”, một công trình điều tra về những luận điệu của Mỹ vu khống Liên Xô dùng vũ khí hoá học ở Đông Nam Á.
Kelvin Rowley là giảng viên các đề tài nghiên cứu về chính trị và xã hội tại Viện kỹ thuật Xuyn-bơn, Melbourne.
Các tác giả đã nói rõ động cơ viết quyển sách này của họ. Trước tiên là để chống lại những luận điểm mới hiện nay lấy cái gọi là “chủ nghĩa bành trướng của cộng sản” mà phương Tây đã dựng lên hai thập kỷ trước đây để giải thích việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia. Các tác giả cũng bác bỏ những khẳng định của những kẻ chiến tranh lạnh mới đó rằng Việt Nam là một cường quốc xâm lược, bành trướng. Các tác giả chứng minh rằng “Hà Nội không phải là người gây ra cuộc khủng hoảng ở Đông Dương mà chủ yếu là phản ứng lại các sức ép từ bên ngoài”. Các tác giả cũng phê phán mạnh mẽ chính sách của Trung Quốc và của Mỹ trong khu vực. Các tác giả cho rằng cả phái tả lẫn phái hữu đều không hiểu đúng thực chất chính sách đối ngoại của Trung Quốc đến mức mà các tác giả đã buộc phải để cả một chương trong quyển sách nhỏ này (chương 5) để làm sáng tỏ chính sách đó và để xem xét những gốc rễ lịch sử của nó.
Các tác giả khẳng định rằng trong cuộc chiến tranh trên biên giới phía Bắc Việt Nam, Trung Quốc là kẻ xâm lược và sự xâm lược đó đã được mưu tính công khai từ trước. Các tác giả cũng khẳng định rằng sự đe doạ của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á là một đe doạ “thực sự” chứ không phải chỉ là đe doạ “cảm thấy”. Về thái độ đối với Việt Nam thì các tác giả cho rằng việc Trung Quốc câu kết với Mỹ đầu những năm 1970 đã làm cho Trung Quốc “có một lập trường quyết liệt hơn đối với Hà Nội" và chính sách của Trung Quốc hiện nay là ra sức “làm chảy máu Việt Nam”.
Bằng mắt thấy và tai nghe của mình, các tác giả chứng minh rằng mối quan hệ giữa ba nước Đông Dương là mối quan hệ bình đẳng, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ và hợp tác với nhau, chẳng hề có “không khí chiếm đóng” hoặc hiện tượng “thuộc địa hoá” nào như phương Tây vu khống. Các tác giả bỏ cái mà phương Tây gọi là “Liên bang Đông Dương trong quan hệ giữ ba nước”.
Đối với các nước ASEAN, các tác giả cho rằng các nước này liên kết chặt chẽ với các chính sách của Trung Quốc và của Mỹ chống lại Việt Nam. Đó là một chính sách tỏ ra phản tác dụng, chỉ phục vụ cho lợi ích của Trung Quốc và của Mỹ chứ không phải cho lợi ích an ninh và ổn định khu vực của ASEAN.
Các tác giả cũng khẳng định rằng chính vì sự yếu kém cả về mặt chính trị lẫn quân sự của Khmer đỏ và các nhóm Khmer phản động khác nên Trung Quốc và các nước ASEAN phải tìm cách kéo chúng vào một liên hiệp và một liên hiệp như vậy tất nhiên là “một liên hiệp của những sự nghiệp nhất định thất bại”.
Một động cơ nữa của các tác giả khi viết quyển sác này là để bác bỏ những luận điệu của những kẻ chiến tranh lạnh mới cho rằng những sự kiện ở Đông Dương sau 1973 đã bào chữa cho sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Đông Dương trước đây và do đó những người chống chiến tranh Đông Dương trước đât, trong đó có các tác giả, phải trả lời về những hành động của mình. Các tác giả cho rằng những người chống chiến tranh Đông Dương trước đây chẳng cần phải trả lời gì cả vì hành động chống chiến tranh của họ trước đây đã đúng, bây giờ vẫn đúng và sau này vẫn tiếp tục đúng nếu chống lại sự can thiệp quân sự vào thế giới thứ ba. Cuộc can thiệp của Mỹ đã tỏ ra là “tai hại không phải chỉ cho lính Mỹ và gia đình của họ, mà còn cho nhân dân Đông Dương. Nó đã gây ra tàn phá và đau khổ không sao kể xiết, nhưng chẳng đạt được gì”.
Tuy nhiên, các tác giả cũng có những hạn chế quan trọng về quan điểm lập trường cũng như về tư duy. Trước hết tuy đã nói rõ trong cuộc xung đột này chân lý thuộc về Việt Nam nhưng các tác giả không thấy được sự biến chất của một số bên khác trong cuộc xung đột hiện nay nhất là sự biến chất hoàn toàn của Khmer đỏ và tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary xem chúng vẫn còn là cộng sản, cho nên đã lấy tên quyển sách là “Chiến tranh giữa những người anh em Đỏ”. Chúng tôi thấy tên này không phù hợp với thực chất của thực tế khách quan nên đề nghị lấy một tên khác thay vào. Để tôn trọng ý kiến của các tác giả tuyên bố rằng nhận định của các tác giả đối với Hà Nội trong cuộc xung đột là hợp lý với chân lý hơn là với cách thức đương thời, và chân lý là quan trọng chứ không phải cách thức, chúng tôi đề nghị lấy tên “Chân lý thuộc về ai” đặt cho quyển sách.
Các tác giả không thấy được nguồn gốc sâu xa của các cuộc xung đột là chủ nghĩa bá quyền bành trướng của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh câu kết với đế quốc Mỹ, mà lại gán cho cái mà các tác giả cho là “các thứ chủ nghĩa dân tộc”. Các tác giả có nói đến nhân tố bên ngoài là Trung Quốc và Mỹ làm trầm trọng thêm các cuộc xung đột nhưng chưa thấy hết Trung Quốc là người đóng vai trò chủ mưu trong cuộc xung đột trên biên giới Tây Nam của ta, thực hiện cuộc xung đột biên giới phía Bắc, gây tình hình căng thẳng và không ổn định ở khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc hiện nay vẫn là cản trở chính của một giải pháp cho cái gọi là “vấn đề Campuchia và cho việc thực hiện sự ổn định ở Đông Nam Á”.
Với thái độ gạn đục khơi trong, chúng tôi rất trân trọng đối với những quan điểm đúng đắn, những tư liệu quý báu của các tác giả và rất mong các tác giả thông cảm với chúng tôi về những điều mà chúng tôi không thể đồng ý với các tác giả được.
Trên tinh thần như vậy, chúng tôi dịch quyển sách này để giới thiệu với bạn đọc làm tài liệu tham khảo. Chúng tôi có lược đi một số chỗ mà chúng tôi thấy không cần thiết. Chúng tôi rất mong bạn đọc hiểu rõ ý định của chúng tôi khi đọc bản dịch này và khi sử dụng nó trong công tác nghiên cứu của mình.
Rất cảm ơn bạn đọc và rất mong bạn đọc góp ý kiến cho chúng tôi.
Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 1985
Người dịch: Nguyễn Tấn Cưu
___________________________________________________________________
Lời nói đầu của tác giả
Sau 30 năm chiến tranh, hoà bình đã trở lại Đông Dương năm 1975. Vì những bên thắng trận ở Đông Dương đều tất cả là cộng sản nên nói chung, người ta cho rằng quan hệ giữa họ với nhau sẽ là quan hệ "anh em" và hoà bình. Nhưng như phần lớn thế giới không ngờ tới, những căng thẳng và rạn nứt đã xuất hiện và sau thắng lợi tình đoàn kết đó đã sụp đổ. Tháng 12 năm 1978 Việt Nam tấn công cùng Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot, và Trung Cộng trả lời bằng một cuộc xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979 để "trừng phạt" Hà Nội. Nước Lào tự thấy bị kẹt vào giữa mối hận thù của các đồng minh của mình. Đó là cuộc chiến tranh Đông Dương lần ba.
Hai ngày sau khi Trung Quốc tiến công vào Việt Nam, tờ thời báo New York viết một xã luận với đầu đề là "anh em Đỏ chiến tranh với nhau". Bài xã luận công kích chủ nghĩa cộng sản và bênh vực chủ nghĩa đế quốc tư bản. Bài xã luận khen nước Mỹ là lực lượng "cho hoà bình", cần tự khẳng định" mạnh mẽ hơn nữa trên khắp thế giới. Trong khi đưa ra một sự bào chữa mong manh cho chính cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương, thì thời báo lại cố nhấn mạnh đến sự yếu kém nghiêm trọng của lý thuyết xã hội chủ nghĩa.
Tất cả các chính phủ tham gia các cuộc chiến tranh đều viện ra những động cơ cao nhất của mình cho sự tham gia đó và tất cả các cuộc chiến tranh đều sản sinh ra những câu chuyện hoang đường và những người tạo ra những chuyện hoang đường đó. Phải mất rất nhiều thời gian để gạt bỏ những chuyện hoang đường mà Mỹ đã dùng để chứng minh cho sự can thiệp quân sự của họ ở Việt Nam. Sự can thiệp đó cuối cùng được gọi là “cuộ chiến tranh của các phóng viên” bởi vì các nhà báo phớt lờ các điều giải thích chính thức của Mỹ và tự tìm lấy sự thật. Họ thấy rõ rằng họ đã bị lừa dối và những cuộc điều tra tiếp theo sau đó về cách tiến hành chiến tranh như đã được trình bày trong quyển sách xuất sắc của William Sawcrot, quyển “Sự kiện phụ: Nixon, Kissinger và cuộc tàn phá Campuchia” (1979), đã cho thấy sự tàn bạo và lừa dối của Washington cũng như mức độ rộng lớn của thảm kịch mà Mỹ đã gây ra. Ít có ai sau khi đọc quyền sách của Sawcrot mà còn tán thành sự “tự khẳng định” của Mỹ theo kiểu đó một lần nữa.
Nhưng ngày nay các con em của Mỹ đã trở về gia đình và những thông báo của bộ ngoại giao Mỹ về cuộc tranh chấp hiện nay ở Đông Dương lại được người ta một lần nữa chú ý theo dõi. Cuộc chiến tranh lạnh mới đã thành công trong việc làm sống lại sự phản xạ chống cộng tự nhiên của nhiều nhà bình luận. Họ chỉ việc giũ sạch bụi bặm của những clise cũ về “sự bành trướng của cộng sản” hai thập kỷ trước đây để giải thích việc Việt Nam xâm chiếm Campuchia. Cách nhìn đầy mâu thuẫn và quá đơn giản đó vẫn còn được sự tán thành rộng rãi.
Chính vì đứng trước cách giải thích cuộc chiến tranh Đông Dương thứ ba bằng lý luận chiến tranh lạnh mới đó mà chúng tôi đã viết quyển sách này. Nhưng trong khi viết, chúng tôi không tìm kiếm một sự khẳng định lại những “chân lý cũ” dù cho chúng là của phái tả hay phái hữu. Chúng tôi trước hết muốn giải thích vì sao các nước cộng sản lại đi đến chiến tranh với nhau ở Đông Dương. Điều gì thực sự đã xảy ra ở Đông Dương sau năm 1975?
Khẳng định của những kẻ chiến tranh lạnh mới cho rằng Việt Nam là một cường quốc xâm lược, bành trướng, là sai lầm. Trong quyển sách này chúng tôi vạch ra rằng Hà Nội hoàn toàn không phải là kẻ gây ra cuộc khủng hoảng ở Đông Dương mà chủ yếu Hà Nội chống lại những sức ép không tính được trước từ bên ngoài, đặc biệt là từ chế độ Pol Pot. Tuy vậy, Hà Nội có đủ khả năng để phản ứng rất gay gắt với những sức ép đó. Trong khi cuộc xung đột xảy ra vì những nguyên nhân chủ yếu là khu vực, chúng tôi cũng vạch ra rằng Trung Quốc và Mỹ đã đóng một vai trò quá mức cần thiết trong cuộc xung đột đó. Toàn bộ sự giải thích này có cảm tình với Hà Nội hơn là những kiểu cách đương thời. Nhưng chân lý là quan trọng, còn kiểu cách thì không. Nếu sự phân tích của chúng tôi là đúng đắn, thì phần lớn suy nghĩ hiện nay của phương Tây về Đông Dương là dựa vào những ảo tưởng sai lầm một cách nguy hiểm.
Với cách nhìn của chúng tôi đối với Đông Dương, thì không cần phải nói cũng thấy rằng chúng tôi hết sức chỉ trích chính sách của Trung Quốc trong khu vực này. Màn khói bao trùm sự hiểu sai chính sách đối ngoại của Trung Quốc, cả ở cánh tả lẫn cánh hữu, dày đặc đến mức chúng tôi cảm thấy bắt buộc phải để khá nhiều trang sách làm sáng tỏ tình hình và xem xét các nguồn gốc lịch sử của nó.
Lúc khởi đầu, chúng tôi có ý định viết cả những phát triển chính trị trong nước lẫn những quan hệ quốc tế. Nhưng nếu làm như vậy thì quyển sách khá dồi dào, sẽ dài gấp đôi, vì vậy chúng tôi đã giới hạn vào mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, khi viết quyển sách này, chúng tôi thấy rõ rằng các chính sách đối nội và đối ngoại của các nước hình thành một mạng lưới không có ranh giới của nhân và quả. Do đó trong khi tập trung vào chính trị quốc tế, chúng tôi cũng thấy cần thiết nhiều lúc phải đi vào phân tích chính trị trong nước. Điều đó đặc biệt rất đúng đối với nước Campuchia của Pol Pot bởi vì theo cách nhìn của chúng tôi cuộc khủng hoảng ở Campuchia là trung tâm của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ ba. Đồng thời, điều đó vẫn đúng, tuy với mức độ thấp hơn, đối với các chính phủ khác.
Sự quan tâm của chúng tôi đối với Đông Dương xuất phát ban đầu từ sự tham gia của chúng tôi vào phong trào chống chiến tranh trong những năm 1960. Những người chiến tranh lạnh mới rêu rao rằng các sự kiện từ năm 1975 rõ ràng bào chữa cho sự can thiệp quân sự của Mỹ và những người tham gia phong trào chống chiến tranh phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Về một ý nghĩa nào đó, chúng tôi đã “chịu trách nhiệm” đối với phong trào bằng việc viết quyển sách này.
Tuy nhiên, với một ý nghĩa quan trọng hơn, chúng tôi thấy chẳng có gì để chịu trách nhiệm cả. Không tránh khỏi có nhiều chuyện ngây thơ và khờ dại đã được nói (và làm) lúc đó, nhưng chống lại cuộc chiến tranh Việt Nam trước kia là điều đúng đắn, cũng như bây giờ vẫn đúng đắn nếu chống lại những vụ can thiệp quân sự tương tự như vậy vào thế giới thứ ba. Theo qua điểm của chúng tôi, chẳng có gì trong các thảm kịch ở Đông Dương từ năm 1975 có thể bào chữa cho sự can thiệp quân sự sai lầm của Mỹ và các đồng minh của họ. Sự can thiệp đó là rất tai hại không chỉ cho những quân nhân bị đẩy vào một cuộc chiến tranh mà họ không hiểu biết gì, và cho gia đình của họ mà còn đối với nhân dân Đông Dương nữa. Sự can thiệp đó đã gây ra sự tàn phá và đau khổ không kể xiết, và đã không đạt được gì cả. Cuối cùng, chúng tôi xin nhắc lại rằng sau chiến tranh thế giới thứ nhất, có một số người tìm cách giải thích các thất bại quân sự của mình bằng việ cho là bị một “nhát đâm sau lưng” và khao khát một cuộc đối chọi khác từ một tư thế của sức mạnh. Chúng tôi hy vọng rằng những kẻ chiến tranh lạnh mới, không nên để phải được nhắc về hậu quả của việc đó.
Chúng tôi đã bắt đầu viết quyển sách này từ cuối năm 1979 và chúng tôi đã thăm Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan trong nhiều tháng. Nhiều người đã khuyến khích và giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi xin cảm ơn tất cả. Nhưng không có ai chịu trách nhiệm về những ý kiến mà chúng tôi bày tỏ. Trên tất cả, đây là quyển sách của chúng tôi.
Melborne, Australia, tháng 12 năm 1983
Grant Evans-Kelvin Rowley
XEM TIẾP:
1. Chủ nghĩa dân tộc (quốc gia) sơn đỏ
2. Việt Nam: Câu chuyện hoang đường của chủ nghĩa bành trướng sau chiến tranh
3. Lào: Sự lu mờ của chủ nghĩa cộng sản “trung lập”
4. Cam-pu-chia: Nền chính trị của chủ quyền tuyệt đối
5. Chiến tranh biên giới Việt Nam-Campuchia, 1977-1978
6. Đông Dương: Liên bang hay liên minh?
7. ASEAN: Những domino đẩy lùi
8. Khối liên hiệp của những sự nghiệp nhất định thất bại
9. Kết luận: chiến tranh giữa những người anh em Đỏ

