Cách đây tròn 70 năm, trận đại chiến Stalingrad đã mở màn. Đây là một trận đánh mang tính bước ngoặt không chỉ trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, mà còn trong toàn bộ Chiến tranh thế giới thứ II.
Ý nghĩa chiến lược của Stalingrad
Bộ chỉ huy Đức, đứng đầu là Adolf Hitler nhận thấy rằng không thể đánh thắng Liên Xô bằng một cuộc chiến tranh chớp nhoáng (Blitzkrieg). Để đánh thắng phía Đức phải tính đến cách đánh tiêu hao: trước tiên phải thủ tiêu các nguồn lực vật chất để Liên Xô suy kiệt trước khi bị đánh bại hoàn toàn. Chiến cuộc mùa hè năm 1942 diễn ra với mục tiêu chiếm những nguồn cung cấp chiến lược quan trọng hàng đầu của Liên Xô – lúa mì, các nguyên liệu công nghiệp sống còn là điện, than và đặc biệt là dầu lửa. Tất cả những thứ đó đều nằm ở phía Nam nước Nga, ở dãy núi Kavkaz và Baku - trung tâm công nghiệp khai thác dầu mỏ lớn nhất của Liên Xô - và đó là những mục tiêu tối thượng của chiến dịch.
Bản thân Hitler từng tuyên bố: “Nếu không chiếm được các mỏ dầu tại Maikop và Grozny, thì tôi đành phải kết thúc cuộc chiến này”.
Việc chiếm được thành phố Stalingrad có tầm quan trọng rất lớn đối với Hitler vì hai lý do chính. Thứ nhất, đây là một thành phố công nghiệp lớn nằm trên sông Volga - con đường giao thông vận tải mang tầm quan trọng chiến lược nối liền Biển Caspi và miền Bắc nước Nga. Vì vậy việc để mất Stalingrad vào tay phát xít Đức sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận chuyển hàng hóa đến phía Bắc của đất nước. Thứ hai, việc đánh chiếm Stalingrad sẽ củng cố sườn phía Đông của quân Đức vốn đang tiến nhanh về vựa dầu Kavkaz với mục tiêu cắt đứt nguồn cung dầu lửa cho Hồng quân Liên Xô. Đó là chưa kể thành phố này mang tên Stalin, việc đánh chiếm thành phố này cũng sẽ là một thắng lợi quan trọng về mặt tinh thần.
Trận đánh khốc liệt nhất trong lịch sử quân sự thế giới
Trận Stalingrad diễn ra từ ngày 17/7/1942 đến ngày 2/2/1943 là một bước ngoặt quan trọng, làm xoay chuyển cục diện trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đây cũng là một trong những trận đánh đẫm máu nhất, với con số thương vong của cả hai bên lên đến hơn 2 triệu người.
Theo kế hoạch, Tập đoàn quân số 6 tấn công tại mạn Bắc và Tây Bắc Stalingrad và Tập đoàn quân xe tăng số 4 tại phía Nam và Tây Nam. Sau khi đột phá đến bờ sông Volga hai cánh quân này sẽ đánh dọc theo bờ sông tiến ngược chiều nhau và hợp vây Hồng quân Liên Xô phòng thủ thành phố.
Càng ngày Stalingrad càng thu hút nhiều binh lực Đức từ các chiến trường khác: từ chỗ ban đầu chỉ có 13 sư đoàn với khoảng 27 vạn quân, đến cuối tháng 9 năm 1942 tại hướng Stalingrad đã có 80 sư đoàn quân Đức và đồng minh Hungary, Italy và Rumani. Tham gia mặt trận này, phía Đức đã huy động 1.260 xe tăng, 17.000 trọng pháo và súng cối, 1.640 máy bay.
Cuộc tấn công Stalingrad của phát xít Đức đã biến phần lớn thành phố này trở thành đống gạch vụn. Tuy nhiên quân đội phát xít Đức nhanh chóng bị sa lầy trong những trận đánh đẫm máu trên đường phố và trong từng căn nhà. Mặc dù đã kiểm soát 90% thành phố nhưng quân Đức đã hoàn toàn thất bại trong việc triệt tiêu những ổ đề kháng cuối cùng của Hồng quân Liên Xô bám trụ kiên cường bên bờ Tây sông Volga, trong lúc đó thì thời tiết khắc nghiệt của mùa Đông nước Nga đang đến gần.
Các trận đánh trong nội đô diễn ra cực kỳ ác liệt và đẫm máu. Cuộc chiến này điển hình của tính chất không khoan nhượng: cả hai bên đều không chấp nhận bắt tù binh. Quân Đức phải chiếm bằng được thành phố mang tên Stalin biểu tượng của quân thù, mặt khác họ hiểu được tầm quan trọng phải chiếm thành phố làm chỗ trú chân cho mùa đông đang đến gần. Quân đội Liên Xô tử thủ kiên cường, họ đã bị bao vây tất cả các phía, mà sau lưng là sông lớn Volga. Hồng quân Liên Xô sử dụng chiến thuật "đánh áp sát" mà tướng Chuikov gọi là "ôm" lấy quân Đức, vô hiệu hóa ưu thế không quân và làm giảm đáng kể ưu thế của pháo binh Đức.
Chiến sự bùng nổ ác liệt trong toàn thành phố: từng đống đổ nát, từng con đường, từng nhà máy, công xưởng, nhà kho, từng lầu gác đều phải đánh nhau đẫm máu giành đi giật lại nhiều lần. Trong một mớ bòng bong như vậy, tất cả các quy tắc của một trận đánh quy ước đều bị phá vỡ; lối tấn công quen thuộc của lính Đức - huy động một lượng lớn các binh đoàn cơ động hỗ trợ bởi tăng thiết giáp - bị thay thế bởi các trận đấu súng không kém phần ác liệt giữa các nhóm nhỏ binh sĩ giữa những đống gạch vụn ngổn ngang của những ngôi nhà, tòa công sở, tầng hầm và những tòa nhà nhiều tầng.
Ngày 19/11/1942, “Chiến dịch Sao Thiên vương” chính thức bắt đầu mở màn. Sau khi chọc thủng tuyến phòng ngự đối phương các đơn vị cơ động của hai Phương diện quân Liên Xô bằng hai mũi vu hồi tiến tới hợp vây tại khu vực Kalach, cách Stalingrad 30 km về phía Tây. Chỉ sau 3-4 ngày tiến công, Hồng quân Liên Xô đã hội quân tại Kalach và bao vây hoàn toàn 22 sư đoàn đối phương, một bộ phận của Tập đoàn quân xe tăng số 4 và toàn bộ Tập đoàn quân số 6 Đức với khoảng 33 vạn quân.
Tháng 12/1942, phát xít Đức mở “Chiến dịch Bão Mùa đông” nhằm giải cứu đội quân bị vây nhưng thất bại và theo sau đó là toàn bộ hệ thống tiếp vận cho đám quân bị vây cũng bị hoàn toàn cắt đứt.
Ngày 23/1, Hồng quân chiếm được sân bay Gumrak và hy vọng giải thoát cho các sĩ quan cao cấp của Tập đoàn quân 6 cũng tiêu tan. Việc tiếp tế cho quân Đức chỉ còn có thể thực hiện được bằng cách thả dù. Tình hình thiếu hụt quân lương và đạn dược đã trở nên vô cùng tồi tệ, Tướng Paulus chỉ huy Tập đoàn quân số 6 cầu xin Hitler cho phép đầu hàng để giữ tính mạng cho các binh sĩ. Tuy nhiên Hitler đã phong cho Paulus quân hàm thống chế, với hy vọng Paulus sẽ chọn cái chết để bảo toàn danh dự. Tuy nhiên, vốn là người theo đạo Cơ đốc, Thống chế Paulus cực lực phản đối việc tự sát và ngày 31/1/1943 đã quyết định đầu hàng. Ngày 2/2/1943, các lực lượng quân Đức còn lại ở Stalingrad cũng đã đầu hàng. Số tù binh Hồng quân bắt được trong trận này lên đến 91 nghìn người, bao gồm cả 3 nghìn lính Rumani. Như vậy, Tập đoàn quân số 6 đã bị xóa sổ.
Trong hồi ký “Nhớ lại và suy nghĩ”, Nguyên soái Anh hùng Liên Xô G.K. Zhukov đưa ra con số tổn thất của quân Đức trong cả Mặt trận Volga (bao gồm Stalingrad và phụ cận) là gần 1,5 triệu người, khoảng 3.500 xe tăng và pháo tự hành, 12.000 khẩu đại bác và súng cối, gần 3.000 máy bay và một số lớn khí tài quân sự.
Còn Hồng quân Liên Xô cũng bị tổn thất tới 1,1 triệu người. Trong số đó, ở nội đô Stalingrad con số thương vong là 75 vạn người. Tính chung thiệt hại của cả hai bên từ 2 đến 2,5 triệu người, khiến trận Stalingrad trở thành trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới.
Xoay chuyển cục diện Chiến tranh thế giới thứ II
Đại thắng Stalingrad được xem là bước ngoặt quyết định về chính trị, quân sự và tâm lý của Chiến tranh thế giới thứ II vì đây là lần đầu tiên quân đội “bách chiến, bách thắng” của phát xít Đức bị thảm bại trong một trận đánh lớn, với gần 1/4 quân số toàn chiến trường Xô-Đức bị tiêu diệt. Tổn thất về lực lượng và phương tiện đó đã làm rung chuyển tận gốc toàn bộ bộ máy chiến tranh của nước Đức.
Trận Stalingrad được xem là trận thua thảm hại nhất của quân phát xít Đức, có thể còn nghiêm trọng hơn cả trận Normandie ở Tây Âu năm 1944.
Giám đốc Viện lịch sử thế giới Alexander Chubaryan cho rằng trận Stalingrad đã xoay chuyển cục diện chiến tranh: “Stalingrad đã trở thành biểu tượng khởi đầu thất bại của phát xít Đức. Sau trận Stalingrad, nước Đức tuyên bố quốc tang. Đây thực sự là bước ngoặt, là cú đánh mà từ đó trở đi Đức đã không thể nào phục hồi. Tuy nhiên, cuộc chiến này sẽ đi vào lịch sử như là sự kết hợp thành công của ba yếu tố: yếu tố chiến lược, yếu tố kỹ thuật… và yếu tố con người. Stalingrad không chỉ là chiến thắng của chiến lược và chiến thuật mà còn là biểu tượng của sự hy sinh lớn lao. Trận Stalingrad cực kỳ khốc liệt, nhiều người đã hy sinh, nhưng chúng ta đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng chưa từng có và sẵn sàng chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng”.
Các chuyên gia và các chính trị gia phương Tây đã nhiều lần thừa nhận rằng nếu không thắng trận ở Stalingrad, chưa biết Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ kết thúc như thế nào.
Mặc dù thành phố Stalingrad anh hùng đã bị đổi tên thành Volgograd, nhưng chiến thắng vĩ đại Stalingrad vẫn còn sống mãi trong tâm trí loài người.
MINH BÍCH (ĐẤT VIỆT ONLINE)

