dung cu xoc dia bip - choi bac bip - ban do co bac bip - co bac bip cong nghe cao - kinh ap trong nhin xuyen bai

(Slogan)

noi that hoa phat
sua nha - sua nha ha noi

Lịch sử cuộc Cách mạng Pháp 1789 - 1799

Trong khoảng thời gian từ năm 1760 tới năm 1840, vai trò của nước Pháp trên thế giới rất quan trọng. Nếu không có sự can thiệp quân sự của người Pháp tại Bắc Mỹ, người Mỹ chưa chắc đã giành được Độc Lập và Tự Do từ người Anh để rồi thiết lập nên một quốc gia mới, các định chế mới.

Ảnh hưởng của người Pháp đã tới các xứ Ái Nhĩ Lan (Ireland), Ba Lan, Hòa Lan, Ý và nhiều miền đất khác. Nước Pháp đã là trung tâm của các phong trào trí thức trong thế kỷ 18. Khoa Học của nước Pháp đã dẫn đầu Thế Giới. Các sách học, báo chí, tạp chí… viết về Văn Hóa và Chính Trị bằng tiếng Pháp được các nhà trí thức thuộc nhiều quốc gia tìm đọc và các ý tưởng, sáng kiến, phát minh của người Pháp được các dân tộc khác trên Thế Giới theo dõi và bắt chước. Tiếng Pháp đã là một ngôn ngữ quốc tế, dùng cho các nhà trí thức và giới quý tộc của nhiều quốc gia.

Nước Pháp với dân số 24 triệu người vào giữa thế kỷ 18, là một miền đất giàu có nhất và đông dân nhất dưới quyền một chính phủ trung ương trong khi vào thời gian này, nước Đức còn bị chia rẽ, nước Nga chưa ổn định và dân số của cả nước Anh và Tô Cách Lan cộng lại mới được 10 triệu người. Thành phố Paris tuy nhỏ hơn so với thành phố London về diện tích nhưng lại rộng gấp hai lần các thành phố Vienna và Amsterdam. Tiền vàng của nước Pháp được lưu hành khắp châu Âu và chiếm một nửa số lượng ngoại tệ giao dịch, và số lượng hàng hóa xuất cảng của nước Pháp qua các nước khác của châu Âu đã lớn hơn số lượng hàng hóa của nước Anh. Nhưng trong hoàn cảnh phát triển với ảnh hưởng rộng lớn như vậy, cuộc Cách Mạng Pháp đã bùng nổ, làm rung động cả châu Âu, đã lật đổ chế độ cũ bằng một thứ "xã hội mới" và là một khuôn mẫu mà các phong trào cách mạng sau này hướng vào, coi cuộc Cách Mang Pháp năm 1789 là một cách mạng đi trước.

1- Nguyên nhân sâu xa của cuộc Cách Mạng Pháp.

Chế độ chuyên chế sáng suốt (enlightened despotism) có thể được dẫn chứng bằng đường lối cai trị của Vua Louis 14 tại nước Pháp hay của Đại Đế Peter tại nước Nga. Vào thời đại chuyên chế này, các nhà cai trị đã khai quang các vùng đất sình lầy, mở mang đường lộ, xây dựng cầu cống, đặt ra luật lệ, dẹp bớt các quyền tự trị địa phương, giới hạn tính độc lập của nhà thờ và giới quý tộc đồng thời đào tạo ra một tầng lớp viên chức thuộc quyền chính phủ trung ương. Nhà vua vào thời kỳ này đã mang tính chất thế tục, không tự cho rằng quyền hành là do "Thiên Mệnh" và chịu trách niệm cai trị thần dân thay "Trời". Nhà vua đã xác nhận quyền hành của mình do sự hữu ích của ngai vàng đối với xã hội và cũng vì thế, Đại Đế Frederic đã tự gọi mình là "người công bộc bậc nhất của quốc gia" (the first servant of the state). Tính cách của chế độ chuyên chế sáng suốt đã thể hiện rõ tại các nước Pháp, Áo, Phổ, Nga, Tây Ban Nha, Đan Mạch và Anh…

Tại nước Pháp, sự chuyên chế sáng suốt của nhà vua đã gặp thất bại. Vua Louis 15 lên ngai vàng năm 1715 và trị vì tới năm 1774, đã sống trong cung điện Versailles tráng lệ và không quan tâm tới các vấn đề hệ trọng của đất nước. Nền quân chủ của nước Pháp gặp nhiều khó khăn, nhất là trong phương pháp thu thuế. Phần lớn nguồn lợi của quốc gia do việc thu thuế và có một phần thuế do việc bán đi một số đặc quyền. Trong các thứ thuế, quan trọng nhất là thuế đất (taille), sau đó là thuế muối (gabelle). Thông thường chỉ có giới nông dân phải nộp thuế đất và theo nguyên tắc, thuế đất được miễn trừ cho giới quý tộc, các viên chức chính quyền và giới tư sản, trong khi đó nhà thờ có khoảng 5 % tới 10 % đất đai, cũng được miễn thuế vì đã tặng đều đặn cho nhà vua các món quà, dù rằng những thứ quà này ít hơn loại thuế trực thu.

Mặc dù nước Pháp là một quốc gia giàu có và phong phú tài nguyên, nhưng về lâu dài, chính quyền Pháp trở nên nghèo khó đi vì những tầng lớp xã hội được thụ hưởng sự thịnh vượng lại không phải trả thuế theo lợi tức của họ. Do áp lực chiến tranh, Vua Louis 14 đã bắt người dân Pháp phải đóng thuế thân (poll tax) và thuế 10 % tính trên lợi tức, nhưng nhiều người đã tìm cách trốn tránh các loại thuế này. Năm 1726, việc thu thuế cũng gặp thất bại vì việc trả thuế trực thu chứng tỏ người đóng thuế thuộc đẳng cấp thấp kém (inferior status) trong xã hội. Các nhà quý tộc, giới tu sĩ, giới tư sản cũng phản đối việc đóng thuế vì họ không có trách nhiệm và không có quyền kiểm soát chính trị hay hành chánh đối với xã hội mà họ đang sinh sống. Họ đòi hỏi nhà vua phải tôn trọng nguyên tắc là không có thuế nếu không có đại diện của các tầng lớp dân chúng.

Tới thập niên 1740, do phí tổn chiến tranh của nước Pháp quá cao, một loại thuế mới lại được ban hành theo đó, mọi lợi tức từ mọi tài sản phải chịu thuế 5 %: đất đai, đầu tư thương mại và các quyền lợi khác. Không ai được miễn thuế cả, dù thuộc tầng lớp xã hội nào, dù trước kia đã được miễn thuế rồi… nhưng trên thực tế, loại thuế 5 % này chỉ được đánh vào đất đai.

Khi chính quyền Pháp thời đó tăng thuế, tiếng phản đối dữ dội đã nổi lên từ Nghị Viện Paris, từ các nghị viện 11 tỉnh, từ miền Brittany và từ giáo hội. Tất cả các tổ chức này đã mạnh hơn thời trước. Những người phản đối chính quyền trung ương Pháp đã viện dẫn các lời nói của Montesquieu (1689-1755). Trong tác phẩm "Tinh Thần Luật Pháp" (the Spirit of the Laws) xuất bản năm 1748, ông Montesquieu đã làm phát triển hai ý tưởng chính. Ý tưởng thứ nhất cho rằng các hình thức chính quyền thay đổi tùy theo khí hậu và hoàn cảnh, chẳng hạn như thể chế chuyên chế (despotism) chỉ thích hợp với loại đế quốc rộng lớn tại miền khí hậu nóng và chế độ dân chủ chỉ hữu hiệu tại các quốc gia thành phố nhỏ bé (small city-states). Ý tưởng thứ hai nhắm vào sự độc đoán thuộc vương quyền (royal absolutism) của nước Pháp. Montesquieu đã tin tưởng rằng cần phải có sự phân chia và cân bằng quyền lực (the separation and balance of power) giữa nhà Vua và các cơ chế trung gian, chẳng hạn như các nghị viện, giới quý tộc, giới tu sĩ hay nhà thờ. Triết gia Montesquieu cũng đã khâm phục các thể chế chính trị của nước Anh theo đó có sự hòa hợp giữa vương quyền, giới quý tộc và nền dân chủ (monarchy, aristocracy and democracy) thể hiện bằng nhà Vua, các nhà quý tộc và các viện dân cử. Lý thuyết về sự phân quyền giữa Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp của Montesquieu đã ảnh hưởng rất mạnh tới các người Mỹ khiến cho các nhà lập quốc Bắc Mỹ viết ra Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ năm 1787.

Thời đó, các nghị viện của nước Pháp đã cương quyết cho rằng việc tăng thuế là vi hiến (unconstitutional) và vi phạm vào các tự do lịch sử của họ (historic liberties). Sau nhiều tranh chấp, Vua Louis 15 đành phải xếp việc tăng thuế sang một bên. Nhưng khi cuộc chiến tranh 7 năm (1756-1763) chấm dứt, vương quyền của nước Pháp lại muốn tăng cường việc tập trung quyền lực vào trung ương nên đã quyết định hủy bỏ các nghị viện vì đây là các lực lượng chính trị chống đối. Vì mục đích này, vào năm 1768, Vua Louis 15 đã bổ nhiệm ông Maupeou làm thủ tướng để giải tán các nghị viện cũ đồng thời thiết lập ra các nghị viện mới thay thế. Nhân viên của các hội đồng mới này là các viên chức được bổ nhiệm, ăn lương, không được bỏ phiếu chống đối các đạo luật của chính quyền, có tính đồng nhất trên cả nước Pháp và một dự tính của các hội đồng này là sẽ đánh thuế vào các tầng lớp xã hội đã được ưu đãi hay miễn thuế trước kia.

Năm 1774, Vua Louis 15 qua đời, nối ngôi là người cháu tức Vua Louis 16 mới 20 tuổi, một người vụng về và nhút nhát, ưa thích cưỡi ngựa, săn bắn và làm các ổ khóa. Khuyết điểm của nhà vua trẻ này là tính do dự, sẵn sàng nghe lời các cố vấn và khi có những lời khuyên sáng suốt, mọi việc đều tốt đẹp nhưng khi nhà vua gặp các lời khuyên thiển cận, kết quả là những nguy hại cho chính mạng sống của nhà vua.

Việc tăng thuế của ông Maupeou và các người cộng tác với ông cũng đã gặp chống đối, nhiều nơi tố cáo ông là kẻ thừa hành của một chế độ chuyên chế và họ đòi hỏi phải lập lại Nghị Viện Paris và các nghị viện cũ. Vua Louis 16 vì do dự, đã ra lệnh giải nhiệm ông Maupeou và làm phục hồi các nghị viện cũ. Thực ra, chính các nghị viện cũ này đã ngăn trở các cải cách, đã là cứ điểm của giới quý tộc và các người hưởng đặc quyền trong nhiều thập niên.

Cũng vào năm 1774, Vua Louis 16 thành lập một bộ cải cách, đứng đầu là ông Jacques Turgot. Đây là một nhà triết học và cũng là một nhà cai trị có kinh nghiệm. Khi lên nắm quyền, ông Turgot đã tìm cách dẹp bỏ các phường thợ thủ công (guilds) vì các loại nghiệp đoàn này đã chiếm được sự độc quyền ưu đãi tại các thành thị. Ông Turgot cũng cho phép ngành nội thương về ngũ cốc được tự do hơn và tìm cách hủy bỏ loại tạp dịch bắt buộc (corvée) theo đó mọi công dân phải sửa chữa đường lộ trong vài ngày mỗi năm và thay thế bằng tiền đánh thuế lên mỗi đầu người dân thuộc mọi giai cấp. Trước chương trình cải cách này, Nghị Viện Paris được sự ủng hộ của các thành phố khác và nhà thờ, đã phản đối ông Turgot dữ dội, khiến cho ông ta phải từ chức vào năm 1776. Việc canh tân như vậy đã bất thành.

Năm 1778, nước Pháp giao chiến với nước Anh. Các đòi hỏi lại tái diễn: các phí tổn vì chiến tranh, các món nợ, các dự án đánh thuế, các chống đối từ các nghị viện và từ các thành phần của dân chúng… và kết quả là vào thập niên 1780, cuộc Cách Mạng đã bùng nổ.

XEM TIẾP: 2 - Ba giai cấp trong chế độ cũ của nước Pháp.

Copyright